





























Hadeeth Cards
Da'wa cards that highlight great meanings from the noble prophetic hadiths in a simple style and attractive display that helps the Muslim to have a deeper understanding of his religion in an easy way
All
Ông Anas bin Malik kể: {Thiên Sứ của Allah cấm nam giới nhuộm bằng nghệ tây.}
Do Al-Bukhari và Muslim ghiThiên Sứ của Allah cấm nam giới nhuộm cơ thể hoặc quần áo bằng chất nghệ tây, bởi đây là chất thơm dành riêng cho phụ nữ nên cấm nam giới bắt chước theo phụ nữ.
Theo ông Aly bin Abi Talib dẫn lời Thiên Sứ ﷺ đã nói: {Không còn là mồ côi khi đã trưởng thành và không được câm lặng trừ sáng đến tối.}
Do Abu Dawood ghiThứ nhất: Một người không được xem là mồ côi sau khi đã trưởng thành. Thứ hai: Trước đây thời tiền Islam mọi người thờ phượng Allah bằng hình thức câm lặng không thốt ra lời kéo dài từ sáng đến mặt trời lặn, điều này bị Islam do kéo theo việc không tụng niệm Allah, không gọi mọi người đến việc thiện và cũng không cấm mọi người làm điều Haram, không xướng đọc Qur'an... và đây còn là hành động của nhóm người thời tiền Islam.
Thiên Sứ của Allah nói qua lời thuật của ông 'Abdullah bin 'Amru bin Al-'Aas: {Trở về sau Jihad như đang Jihad.}
Do Abu Dawood ghiHadith đề cao giá việc con người duy trì việc hành đạo và họ được ân phước suốt khoảng thời gian trong việc hành đạo đó. Tương tự, người trở về sau khi Jihad giống như y đang ngoài sa trường giết giặt vậy, cả hai hiện trạng đều được ân phước như nhau, giống như hình ảnh người đi bộ đến Masjid và trở về với gia đình.
Theo ông Abu Huroiroh thuật lại lời Thiên Sứ ﷺ đã nói: {Người nô lệ ngoan đạo được hưởng hai ân phước.} xin thề với Đấng nắm linh hồn Abu Huroiroh trong tay Ngài nếu như không có Jihad, không hành hương Hajj và không hiếu thảo với mẹ là tôi muốn mình được chết là người nô lệ.
Do Al-Bukhari và Muslim ghiÝ nghĩa Hadith: Ông Abu Huroiroh thuật lại lời Thiên Sứ ﷺ đã nói là đối với nô lệ ngoan đạo hoàn thành bổn với Allah và bổn phận với chủ nhân, y được hưởng đến hai phần thưởng. Sau đó, ông Abu Huroiroh cho biết nếu không phải vì bổn phận Jihad và hiếu thảo với mẹ qua việc cấp dưỡng và chăm sóc là ông đã muốn được chết là thân phận của một nô lệ chỉ vì ân phước nhiều hơn người thường.
Ông Amru bin 'Abasah - cầu xin Allah hài lòng về ông - kể: Trong thời Jahiliyah, tôi đã luôn nghĩ rằng mọi người đang ở trên sự lầm lạc, họ thực sự không ở trên bất cứ điều chân lý nào vì họ đã thờ phượng các bục tượng. Rồi tôi nghe tin có một người đàn ông ở Makkah đang rao truyền những thông điệp. Thế là tôi liền cưỡi lạc đà đến đó. Lúc dó, Thiên Sứ của Allah vẫn còn rao truyền một cách thầm kín, người dân của Người đang công kích Người. Tôi âm thầm tìm đến chỗ Người tại Makkah. Tôi nói với Người: Ông là gì? Người nói: "Ta là Nabi" Tôi nói: Nabi là gì? Người nói: "Allah cử phái Ta đến" Tôi nói: Ngài cử phái Người mang đến điều gì? Người nói: "Ngài cử Ta đến với sứ mạng hàn gắn tình họ hàng thân tộc, đập phá các bục tượng, độc tôn Ngài và không tổ hợp với Ngài bất cứ điều gì." Tôi nói: Ai đang ở cùng Người vậy? Người nói: "Người tự do và người nô lệ". Ngày hôm đó, đang ở cùng với Người là ông Abu Bakr và Bilal - cầu xin Allah hài lòng về hai người họ - Tôi nói: Quả thật, tôi đi theo Người. Người nói: "Hôm nay anh không thể, anh cũng thấy tình trạng của tôi và tình trạng của người dân rồi đó. Tuy nhiên, anh hãy quay về, đợi khi nào anh nghe tin Ta đã công khai thì anh hãy đến với Ta." Thế là tôi quay về. Sau đó, Thiên Sứ của Allah đến Madinah và một số người nhà của tôi cũng đến Madinah. Tôi hỏi thăm: người đàn ông này tại sao lại đến Madinah. Họ nói: người dân đang truy đuổi bắt ông ta, người dân của ông ta đã muốn giết ông ta nhưng không thành. Thế là tôi đến Madinah. Tôi đến gặp Người. Tôi nói: Thưa Thiên Sứ của Allah, Người có nhận ra tôi không? Người nói: “Có, anh là người đã gặp Ta ở Makkah.” Tôi nói: Thưa Thiên Sứ của Allah, xin Người hãy dạy tôi những gì Allah đã dạy Người và những gì tôi không biết. Xin Người dạy tôi lễ nguyện Salah. Người nói: “Anh hãy dâng lễ nguyện Salah lúc rạng đông, rồi thôi cho đến khi mặt trời đã mọc cao lên khoảng một sào (mới được Salah khuyến khích nếu muốn) bởi quả thật khi mặt trời mọc là nó mọc giữa hai sừng của Shaytan, đó là lúc những kẻ ngoại đạo quỳ lạy nó. Sau đó, anh hãy dâng lễ nguyện Salah Dhuha, thời gian của nó cho đến khi mặt trời đứng bóng. Lúc mặt trời đứng bóng thì không Salah bởi đó là giờ mang hơi nóng của Hỏa Ngục. Khi mặt trời vừa nghiêng bóng thì ngươi hãy dâng lễ nguyện Salah trong khoảng thời gian này kéo dài đến giờ lễ nguyện Salah Asr. Sau đó, không có lễ nguyện Salah cho đến khi mặt trời lặn bởi mặt trời lặn giữa hai sừng của Shaytan và đó là lúc những kẻ ngoại đạo quỳ lạy nó.” Tôi nói: Thưa Nabi của Allah, hãy chỉ tôi Wudu’. Người nói: “Bất kỳ người nào đến gần nước rửa mặt, súc miệng mũi thì những tội lỗi sẽ rơi khỏi mặt của y theo những giọt nước rơi xuống từ cằm của y. Sau đó y rửa hai khuỷu tay co đến cùi chỏ, những tội lỗi sẽ rơi khỏi hai tay của y theo những giọt nước rời xuống từ các ngón tay của y. Sau đó, y lau vuốt đầu, những tội lỗi sẽ rơi khỏi đầu của y theo những giọt nước rơi xuống từ tóc của y. Sau đó y rửa đôi bàn chân cho đến mắt cá chân, những tội lỗi sẽ rơi khỏi hai bàn chân theo những giọt nước rớt xuống từ các ngón chân. Rồi khi đứng dâng lễ nguyện Salah, y ca ngợi và tán dương Allah, trái tim hướng hoàn toàn đến Ngài thì mọi tội lỗi của sẽ rời khỏi y giống như ngày y mới lọt lòng mẹ.” Ông Amru đã nói những lời này trước ông Abu Ama-mah, người bạn đạo của Thiên Sứ. Ông Abu Ama-mah nói: Này Amru bin Abasah, anh nên xem lại những gì mình nói, chẳng lẽ một người được cho tất cả những điều này trong một hoàn cảnh duy nhất như thế sao?! Ông Amru nói: Này Abu Ama-mah, quả thật tôi tuổi đã cao, xương cốt đã yếu, kỳ hạn (tuổi thọ) tôi sắp hết, tôi cần chi phải bịa đặt lời của Allah cũng như lời của Thiên Sứ của Ngài. Nếu tôi đã không nghe nó từ Thiên Sứ của Allah một lần hay hai lần hoặc ba lần – ông đếm đến bảy lần – thì tôi không bao giờ buông lời nói như vậy. Nhưng tôi đích thực đã nghe nó nhiều hơn thế.
Do Muslim ghiÔng Amru bin Abasah Assalami - cầu xin Allah hài lòng về ông - cho chúng ta biết tình trạng của ông trong thời Jahiliyah và cách Allah đã hướng dẫn ông đến với Islam. Trong thời Jahiliyah, trái tim ông đã được ban cho ánh sáng giúp ông hiểu được những người đa thân đang ở trên con đường lầm lạc, và ông đã không tin những gì họ tin. Sau đó, ông đã nghe tin về một người đàn ông ở Makkah đang rao truyền những thông điệp tôn giáo trong thời điểm đó. Thế là ông đã cưỡi lạc đà đến gặp Thiên Sứ của Allah. Lúc đó, Thiên Sứ của Allah đang âm thầm rao truyền chưa công khai vì sợ sự tấn công và gây hại từ những kẻ vô đức tin Quraish. Ông Amru bin Abasah nói: (Tôi âm thầm tìm đến chỗ Người tại Makkah. Tôi nói với Người: Ông là gì? Người nói: "Ta là Nabi" Tôi nói: Nabi là gì? Người nói: "Allah cử phái Ta đến" Tôi nói: Ngài cử phái Người mang đến điều gì? Người nói: "Ngài cử Ta đến với sứ mạng hàn gắn tình họ hàng thân tộc, đập phá các bục tượng, độc tôn Ngài và không tổ hợp với Ngài bất cứ điều gì.") Thiên Sứ của Allah đã kêu gọi đến với Allah, trình bày những cái tốt trong tôn giáo vĩ đại này, quan trong nhất là Tawhid (sự độc tôn Allah), cùng với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Thiên Sứ của Allah đã đề cập đến những lệch lạc mà mọi người đã tin nơi những thần linh ngụy tạo từ các bục tượng. Đây là điều mà người đàn ông này đã nhận thức được trước khi vào Islam. Ông ta đang tìm kiếm chân lý. Cho nên, khi ông ta tìm đến Thiên Sứ của Allah, Người đã cho ông biết rằng Allah đã cử phái Người đến bởi những lẽ đó. Người nói: (Ngài cử Ta đến với sứ mạng hàn gắn tình họ hàng thân tộc). Đây là đạo đức tốt đẹp, vì người dân Makkah lúc bấy giờ cho rằng Thiên Sứ của Allah đến để cắt đứt tình màu mủ thân tộc nên Người bác bỏ lời của họ và khẳng định rằng Người đến chỉ để hàn gắn tình máu mủ ruột thịt chứ không phải là cắt đứt nó. Người nói: (đập phá các bục tượng) có nghĩa là đập phá hết những gì được thờ phượng ngoài Allah – Đấng Tối Cao, (độc tôn Ngài và không tổ hợp với Ngài bất cứ điều gì). Lời của Amru: (Ai đang ở cùng Người vậy?) có nghĩa là ai đã vào tôn giáo này cùng với Người? Người nói: (Người tự do và người nô lệ), người tự do là Abu Bakr còn người nô lệ chính là Bilal. Ông Amru nói ông muốn theo Người nhưng Người nói: (Hôm nay anh không thể) có nghĩa rằng nếu ông Amru theo Thiên Sứ của Allah và từ bỏ người dân của ông để cùng với Người tại Makkah thì Người không có khả năng bảo vệ ông khỏi những kẻ vô đức tin. Cho nên, Người bảo ông hãy ở lại với người dân của mình trong tình trạng Muslim cho tới khi tôn giáo này đã có thể đường đường chính chính công khai thì ông hãy ở cùng với Người. Đây là tấm lòng nhân hậu của Thiên Sứ bởi vì người đàn ông này không đủ mạnh để chống lại sự đàn áp của dân chúng. Chính vì vậy, Thiên Sứ của Allah nói với ông: (Hôm nay anh không thể, anh cũng thấy tình trạng của tôi và tình trạng của người dân rồi đó) có nghĩa là người dân thì đông đảo và họ đang đàn áp tôi còn tôi không có khả năng chống trả thì làm sao bảo vệ được anh. Nhưng Người bảo: (Tuy nhiên, anh hãy quay về, đợi khi nào anh nghe tin Ta đã công khai thì anh hãy đến với Ta) có nghĩa là anh hãy duy trì tôn giáo Islam của mình một cách thầm kín cho tới khi nào anh biết rằng Ta đã có thể công khai thì anh hãy đến với Ta. Ông Amru nói (Thế là tôi quay về. Sau đó, Thiên Sứ của Allah đến Madinah và một số người nhà của tôi cũng đến Madinah. Tôi hỏi thăm: người đàn ông này tại sao lại đến Madinah), qua đây cho thấy như thể ông đang che giấu Islam của ông và ông đã chưa công khai vì lo sợ dòng họ của mình. Ông kể tiếp: (Họ nói: người dân đang truy đuổi bắt ông ta, người dân của ông ta đã muốn giết ông ta nhưng không thành. Thế là tôi đến Madinah. Tôi đến gặp Người. Tôi nói: Thưa Thiên Sứ của Allah, Người có nhận ra tôi không? Người nói: “Có, anh là người đã gặp Ta ở Makkah.”). Sau đó, ông yêu cầu Thiên Sứ của Allah, ông nói: (Thưa Thiên Sứ của Allah, xin Người hãy dạy tôi những gì Allah đã dạy Người và những gì tôi không biết. Xin Người dạy tôi lễ nguyện Salah.) Thiên Sứ của Allah nói: (Anh hãy dâng lễ nguyện Salah lúc rạng đông) tức trong giờ giấc của nó, (rồi thôi cho đến khi mặt trời đã mọc cao lên khoảng một sào) có nghĩa là sau lễ nguyện Salah Fajr sẽ không có lễ nguyện Salah nào khác (bởi quả thật khi mặt trời mọc là nó mọc giữa hai sừng của Shaytan, đó là lúc những kẻ ngoại đạo quỳ lạy nó) nên người Muslim không được trì hoãn lễ nguyện Salah Fardh đến thời điểm này và cũng không được lễ nguyện Salah Sunnah trong thời điểm này cho đến khi mặt trời lên cao khoảng một sào; và khi mặt trời lên cao khoảng một sào thì đó là giờ Shuruq. Thiên Sứ của Allah nói tiếp: (Sau đó, anh hãy dâng lễ nguyện Salah Dhuha thời gian của nó cho đến khi mặt trời đứng bóng. Lúc mặt trời đứng bóng thì không Salah bởi đó là giờ mang hơi nóng của Hỏa Ngục) có nghĩa là không được phép dâng lễ nguyện Salah lúc mặt trời đứng bóng. Người nói tiếp: (Khi mặt trời vừa nghiêng bóng) tức bóng của một vật bắt đầu hướng từ tây sang đông, và đó là thời điểm Azdan cho lễ nguyện Salah Zhuhr, (thì ngươi hãy dâng lễ nguyện Salah lễ nguyện Salah trong khoảng thời gian này kéo dài đến giờ lễ nguyện Salah Asr) tức lễ nguyện Salah Zhuhr bắt buộc và lễ nguyện Salah Sunnah cho tới giờ của lễ nguyện Salah Asr, đây là khoảng thời gian mở, được phép lễ nguyện Sunnah tùy thích, không có sự ngăn cản nào. Thiên Sứ của Allah nói tiếp: (Sau đó, không có lễ nguyện Salah cho đến khi mặt trời lặn bởi mặt trời lặn giữa hai sừng của Shaytan và đó là lúc những kẻ ngoại đạo quỳ lạy nó) có nghĩa là sau lễ nguyện Salah Asr thì không có lễ nguyện Salah Sunnah cho tới khi mặt trời lặn, và khoảng thời gian ngắn trước lúc mặt trời lặn và trong lúc mặt trời lặn thì đó là thời điểm cấm giống như thời điểm của lúc mặt trời mọc, nguyên nhân là bởi vì mặt trời lặn giữa hai cái sừng của Shaytan; vì vậy, người Muslim không được trì hoãn lễ nguyện Salah Asr đến khoảng thời gian ngắn trước lúc mặt trời lặn do như thế là hành động giống với sự thờ phượng mặt trời của những kẻ ngoại đạo, người Muslim nào làm như vậy có nghĩa là y đang bắt chước những kẻ ngoại đạo đó, Thiên Sứ của Allah gọi những người làm như thế là những kẻ Muna-fiq vì những kẻ Muna-fiq thường chờ đến khi mặt trời đã vàng thì mới đứng dậy thực hiện bốn Rak’at trong hối hả và hấp tấp, trái tim của họ rất ít nhớ đến Allah trong Salah, cho nên, người Muslim hãy tránh để bản thân mình giống những kẻ ngoại đạo hoặc giống những kẻ vô đức tin. Sau đó, Amru yêu cầu Thiên Sứ của Allah dạy ông cách thức làm Wudu’. Thiên Sứ của Allah nói: (Bất kỳ người nào đến gần nước rửa mặt, súc miệng mũi thì những tội lỗi sẽ rơi khỏi mặt của y theo những giọt nước rơi xuống từ cằm của y ...) tức một người khi làm Wudu’ thì các tội lỗi sẽ rơi khỏi cơ thể của y theo các giọt nước rớt xuống từ các bộ phận làm Wudu’. Ông Amru đã nói toàn bộ Hadith này với ông Abu Ama-mah nên ông Abu Ama-mah bảo ông: (Này Amru bin Abasah, anh nên xem lại những gì mình nói, chẳng lẽ một người được cho tất cả những điều này trong một hoàn cảnh duy nhất như thế sao?!) Ông Abu Ama-mah như thể muốn nhắc ông Amru có phải ông đang nhầm lẫn hay nói quá hay không về việc một người bề tôi được tha thứ tất cả tội lỗi và trở nên vô tội giống như lúc mới lọt lòng mẹ sau khi làm Wudu’ rồi hoàn thành lễ nguyện Salah chăng? Nhưng ông Amru khẳng định một cách quả quyết: (Này Abu Ama-mah, quả thật tôi tuổi đã cao, xương cốt đã yếu, kỳ hạn (tuổi thọ) tôi sắp hết, tôi cần chi phải bịa đặt lời của Allah cũng như lời của Thiên Sứ của Ngài. Nếu tôi đã không nghe nó từ Thiên Sứ của Allah một lần hay hai lần hoặc ba lần – ông đếm đến bảy lần – thì tôi không bao giờ buông lời nói như vậy. Nhưng tôi đích thực đã nghe nó nhiều hơn thế).
Ông Anas bin Malik thuật lại: Con trai của Abu Talhah bị bệnh, khi Abu Talhah đi ra ngoài thì đứa bé qua đời. Sau đó, Abu Talhah trở về nói: tình hình con trai của ta sao rồi? Ummu Sulaim tức mẹ của đứa bé nói: nó ở trong tình trạng của nó. Rồi bà mang đến cho ông bữa tối, ông dùng bữa tối rồi đi ngủ với bà. Sau khi đã xong thì bà mới nói với ông: hãy chôn cất con trai. Thế là sáng ra, Abu Talhah đến gặp Thiên sứ của Allah nói lại sự việc cho Người biết. Thiên sứ của Allah nói: “Tối qua các ngươi có chuyện ‘cô dâu chú rể không?”Abu Talhah nói: Thưa có. Thiên sứ của Allah nói: “Lạy Allah, xin Ngài hãy ban phúc cho hai người họ!” Sau đó, bà Ummu Sulaim đã hạ sinh một đứa bé trai. Abu Talhah bảo tôi: Con hãy bế nó đến cho Nabi và ông gởi kèm theo một vài quả chà là khô. Thiên sứ của Allah nói: “Có mang theo nó (đứa bé) cái gì không?” Tôi nói: Thưa có, một vài quả chà là khô. Thiên sứ của Allah lấy chà là khô nhai rồi bỏ vào trong miệng của em bé và lấy tay cọ chà là được nhai vào lợi của nó và đặt tên cho nó là Abdullah. (Albukhari và Muslim ghi lại). Trong riêng lời dẫn của Albukhari thì có nói thêm: Ibnu Uyainah nói: Một người đàn ông thuộc cư dân Ansaar nói: Tôi đã nhìn thấy chín đứa con trai, tất cả chúng đều đọc Qur’an, tức ý nói chín đứa con trai đó là của Abdullah. Còn trong một lời dẫn của Muslim thì lời Hadith được ghi lại như sau: Đứa con trai của Abu Talhah từ bà Ummu Sulaim chết. Bà Ummu Sulaim bảo gia đình của bà: Mọi người đừng nói cho Abu Talhah biết về đứa con của ông, tôi muốn là người nói cho ông ấy biết điều đó. Rồi Abu Talhah trở về, bà dọn bữa tối cho ông ấy, ông ấy đã ăn và uống, rồi bà đã làm đẹp cho mình đẹp hơn cả trước đây khiến ông ấy động long và ngủ với bà. Sau khi ông ấy ăn no và đã ngủ với bà thì bà nói: Này Abu Talhah, ông có thấy rằng nếu một nhóm người mượn một món đồ rồi người chủ món đồ sau đó đòi lại thì họ có quyền ngăn cản người chủ đó không? Abu Talhah nói: Không. Bà nói: Con trai của ông đã được trả lại. Abu Talhah nghe xong liền tức giận nói: Bà để tôi vui vẻ xong rồi bà mới cho tôi biết về con trai của tôi ư? Thế là ông đến gặp Thiên sứ của Allah và kể lại sự việc. Thiên sứ của Allah nói: “Cầu xin Allah ban phúc cho người trong đêm qua của hai người!” Sau đó, bà đã mang thai. Thiên sứ của Allah trong một chuyến đi xa và bà cũng đi cùng với Người. Thiên sứ của Allah thường khi trở về Madinah từ một chuyến đi xa thì Người không vào Madinah (lúc đêm). Khi mọi người tiến gần đến Madinah thì bà trở dạ, Abu Talhah phải ở lại với bà và Thiên sứ tiếp tục cuộc hành trình. Abu Talhah nói: Lạy Thượng Đế, quả thật Ngài biết rõ rằng khi Thiên sứ ra đi tôi yêu thích ra đi cùng với Người và khi trở vào thì tôi thích trở vào cùng với Người, nhưng có điều đã cản trở bề tôi như Ngài đã thấy. Bà Ummu Sulaim nói: Này Abu Talhah, tôi không đau lắm đâu, tôi đau cũng giống như những lần đau đẻ trước, không có gì đâu, chúng ta hãy tiếp tục lên đường. Và hai người họ vẫn tiếp tục lên đường và bà vẫn trong tình trạng đau bụng chuyển dạ. Rồi khi tới nơi thì bà đã hạ sinh một bé trai. Mẹ tôi nói với tôi: Này Anas! Không ai được phép cho nó bú cho tới khi nào con bế nó đến cho Thiên sứ của Allah vào ngày mai. Sáng ra tôi bồng em bé đến cho Thiên sứ của Allah ... (toàn bộ Hadith).
Do Al-Bukhari và Muslim ghiÔng Anas bin Malik thuật lại về con trai của ông Abu Talhah bị bệnh. Abu Talhah là người chồng sau của mẹ ông Anas bin Malik – cầu xin Allah hài lòng về họ. Abu Talhah đi ra ngoài vì một số công việc thì ở nhà con trai ông trút hơi thở cuối cùng. Khi trở về nhà, ông ấy hỏi mẹ của Anas: con trai sao rồi? Bà nói: nó ở trong tình trạng của nó. Lời của bà là đúng sự thật rằng nó ở trong tình trạng của nó tức trong tình trạng chết. Ông Abu Talhah thì lại hiểu câu nói “nó ở trong tình trạng của nó” là trong tình trạng bệnh tình. Rồi mẹ của Anas vẫn thản nhiên dọn bữa tối và ông Abu Talhah cũng bình thản ăn bữa tối. Xong, ông đã ân ái với bà. Sau khi kết thúc “cuộc giao ban vợ chồng” thì bà mới nói với ông ấy: hãy chôn cất con trai, nó thực sự đã chết. Sáng ra, ông Abu Talhah chôn cất con trai. Thiên Sứ của Allah biết được chuyện đó và hỏi ông ấy: (Tối qua các ngươi có chuyện ‘cô dâu chú rể không?). Ông ấy nói: Thưa có. Thế là Thiên Sứ của Allah đã cầu xin Allah ban Barakah cho hai người họ. Thế là mẹ của Anas sau đó đã hạ sinh một đứa con trai đầy Barakah. Ông Anas kể: ông Abu Talhah bảo tôi bồng đứa bé đến cho Thiên Sứ của Allah và mang théo cùng với nó là một vài quả chà là chín. Ông ấy muốn đứa trẻ sẽ được Barakah từ Thiên Sứ của Allah. Thiên Sứ của Allah đã nhai chà là rồi cọ vào lợi của đứa bé rồi Người đặt tên cho nó là Abdullah. Sau này, cậu bé Abdullah đã có tới chín đứa con trai, tất cả đều đọc Qur’an do Barakah mà Thiên Sứ của Allah đã cầu xin. Còn trong một lời dẫn của Muslim thì mẹ Anas nói với người nhà của bà mọi người đừng nói cho Abu Talhah biết về đứa con của ông, tôi muốn là người nói cho ông ấy biết điều đó. Rồi Abu Talhah trở về, bà dọn bữa tối cho ông ấy, ông ấy đã ăn và uống, rồi bà đã làm đẹp cho mình đẹp hơn cả trước đây khiến ông ấy động long và ân ái với bà. Sau khi ông ấy ăn no và đã ân ái với bà thì bà mới báo cho ông biết nhưng bà nói bằng một hình ảnh thí dụ, bà nói: này Abu Talhah, ông có thấy rằng nếu một nhóm người mượn một món đồ rồi người chủ món đồ sau đó đòi lại thì họ có quyền ngăn cản người chủ đó không? Abu Talhah nói: Không. Bà nói: Con trai của ông đã được trả lại. Abu Talhah nghe xong liền tức giận nói: Bà để tôi vui vẻ xong rồi bà mới cho tôi biết về con trai của tôi ư? Sáng ra ông đến gặp Thiên sứ của Allah và kể lại sự việc. Thiên sứ của Allah nói: “Cầu xin Allah ban phúc cho người trong đêm qua của hai người!” tức cầu xin Allah ban cho hai người họ đứa con từ cuộc ân ái tối qua đó. Vậy là bà đã mang thai sau đó. Rồi vợ chồng bà cùng Thiên sứ của Allah trong một chuyến đi xa. Khi mọi người tiến gần đến Madinah thì bà trở dạ, Abu Talhah phải ở lại với bà và Thiên sứ tiếp tục cuộc hành trình. Abu Talhah nói: Lạy Thượng Đế, quả thật Ngài biết rõ rằng khi Thiên sứ ra đi tôi yêu thích ra đi cùng với Người và khi trở vào thì tôi thích trở vào cùng với Người, nhưng có điều đã cản trở bề tôi như Ngài đã thấy. Mẹ của Anas nói: Này Abu Talhah, tôi không đau lắm đâu, tôi đau cũng giống như những lần đau đẻ trước, không có gì đâu, chúng ta hãy tiếp tục lên đường. Hai người họ tiếp tục lên đường và bà vẫn trong tình trạng đau bụng chuyển dạ. Khi tới nơi thì bà đã hạ sinh một bé trai. Bà bảo Anas không ai được phép cho nó bú cho tới khi nào con bế nó đến cho Thiên sứ của Allah vào ngày mai. Sáng ra Anas bồng em đến cho Thiên sứ của Allah và Người đã nhai quả chà là và cọ vào lợi của nó và đặt tên cho nó là Abdullah. Sau này Abdullah thực sự đã có những đứa con ngoan đạo.
Ông Abu Huroiroh - cầu xin Allah hài lòng về ông - rằng Thiên Sứ của Allah, khi Người trở dậy từ Ruku'a của Rak'ah cuối thì Người nói: "Lạy Allah, xin Ngài hãy cứu 'Ayyaash bin Abu Rabi'ah. Lạy Allah, xin Ngài hãy cứu Salamah bin Husham. Lạy Allah, xin Ngài hãy cứu Al-Waleed bin Al-Waleed. Lạy Allah, xin Ngài cứu những người yếu thế trong đám những người có đức tin. Lạy Allah, xin Ngài trừng phạt bộ tộc Mudhar; lạy Alah, xin Ngài làm cho năm tháng của họ giống như năm tháng của Yusuf." Và rằng Thiên Sứ của Allah nói: "Allah đã tha thứ cho bộ tộc Ghifaar và Allah ban bằng an cho bộ tộc Aslam". Ibnu Abu Azzanad thuật lại từ cha của ông rằng tất cả những lời Du'a này đều trong lễ nguyện Salah Fajr.
Do Al-Bukhari và Muslim ghiThiên Sứ của Allah đã từng Du'a trong lễ nguyện Salah Fajr khi trở dậy từ Ruku'a của Rak'ah cuối, Người nói: "Lạy Allah, xin Ngài hãy cứu 'Ayyaash bin Abu Rabi'ah. Lạy Allah, xin Ngài hãy cứu Salamah bin Husham. Lạy Allah, xin Ngài hãy cứu Al-Waleed bin Al-Waleed. Lạy Allah, xin Ngài cứu những người yếu thế trong đám những người có đức tin." Những vị Sahabah này, Thiên Sứ của Allah cầu nguyện cho họ khỏi những cực hình bởi vì họ đáng là tù binh trong tay của những kẻ vô đức tin ở Makkah. Ayyaash bin Abu Rabi'ah là em trai của ông Abu Jahal. Abu Jahal đã giữ ông lại ở Makkah; Salamah bin Husham là em trai của Abu Jahal, đã vào Islam từ trước, bị hành hạ trong con đường chính nghĩa của Ngài, họ cấm ông di cư khỏi Makkah; Al-waleed bin Al-waleed là anh trai của Khalid bin Al-waleed, ông bị bắt giữ ở lại Makkah. Sau đó Thiên Sứ của Allah tiếp tục cầu nguyện "Lạy Allah, xin Ngài trừng phạt bộ tộc Mudhar; lạy Alah, xin Ngài làm cho năm tháng của họ giống như năm tháng của Yusuf." Có nghĩa là lạy Allah, xin Ngài gia tăng sự trừng phạt lên những kẻ vô đức tin Quraish, và họ thuộc bộ tộc Mudhar, xin Ngài trừng phạt họ bằng những năm tháng hạn hán giống như hoặc hơn những năm tháng đã xảy ra với Yusuf. Lời của Thiên Sứ của Allah “Allah đã tha thứ cho bộ tộc Ghifaar”, đây có thể mang hàm ý rằng Người cầu nguyện sự tha thứ dành cho họ hoặc có thể mang hàm ý rằng Người cho biết Allah đã tha thứ cho họ, còn lời của Người “và Allah ban bằng an cho bộ tộc Aslam” có thể mang hàm ý rằng Người cầu nguyện Allah ban bằng an cho họ và đừng ra lệnh chiến tranh với họ hoặc có thể mang hàm ý rằng Người cho biết Allah đã ban bằng an cho họ và Ngài đã cấm chiến tranh với họ. Hai bộ tộc này sở dĩ được nhắc riêng biệt là bởi vì bộ tộc Ghifar đã vào Islam từ lâu còn bộ tộc Aslam đã giữ hòa với Thiên Sứ của Allah. Ibnu Abu Azzanad thuật lại từ cha của ông rằng tất cả những lời Du'a này đều trong lễ nguyện Salah Fajr có nghĩa là ông nghe những lời này từ cha của ông và cho biết rằng lời Du’a được đề cập là trong lễ nguyện Salah Fajr.
Ông Abu Huroiroh - cầu xin Allah hài lòng về ông - thuật lại rằng Thiên Sứ của Allah - cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người - kể rằng một người đàn ông Israel đã hỏi mượn một người đàn ông Israel một ngàn Dinar. Người được hỏi mượn nói: anh hãy mang đến cho tôi những người làm chứng. Người hỏi mượn nói: Allah chứng giám là đủ. Người được hỏi mượn nói: anh hãy mang đến cho tôi người bảo đảm. Người hỏi mượn nói: Allah bảo đảm là đủ. Người được hỏi mượn nói: anh nói đúng. Thế là y đưa cho người đàn ông đó số tiền được yêu cầu và ghi thời hạn hoàn trả. Người đàn ông đó cầm số tiền vượt biển đến một nơi khác để thực hiện nhu cầu của mình. Sau đó đến kỳ hạn, anh ta tìm kiếm con tàu để gửi số tiền hoàn lại cho người chủ của nó nhưng anh ta không tìm thấy. Vậy là anh ta lấy một khúc gỗ, khoét một lỗ nhỏ và nhét số tiền 1000 Dinar vào trong đó kèm theo một mảnh da ghi vài dòng chữ. Sau đó, anh ta cẩn thận bịt lại lỗ khoét. Xong, anh mang khúc gỗ đến bờ biển, anh ta nói: “Lạy Allah, quả thật Ngài biết rõ bề tôi đã mượn 1000 Dinar từ người đó. Y đã yêu cầu bề tôi người đảm bảo và bề tôi đã nói ‘Allah bảo đảm là đủ’ và y đã bằng lòng về sự bảo đảm của Ngài. Y lại yêu cầu bề tôi người làm chứng, bề tôi đã nói ‘Allah làm chứng là đủ’ và y đã bằng lòng về sự làm chứng của Ngài. Nhưng bề tôi đã cố gắng tìm con tàu gửi số tiền hoàn lại cho y nhưng bề tôi không tìm thấy. Bề tôi xin phó thác nó cho Ngài.” Nói xong, anh ta ném khúc gỗ xuống biển rồi quay đi và tiếp tục tìm kiếm con tàu quay về xứ. Người đàn ông cho anh ta mượn tiền đi ra bờ biển trông ngóng, mong rằng có chiếc tàu nào đó nhận mang số tiền của mình về. Nhưng không thấy chiếc tàu nào, chỉ thấy một khúc gỗ trôi vào bờ. Y mang khúc gỗ về, cưa ra thì thấy số tiền cùng với một mảnh da ghi vài dòng chữ. Sau đó, người mượn tiền đã về tới nhà, anh ta mang 1000 Dinar đến gặp người mà anh ta đã mượn, nói: thề bởi Allah, tôi đã cố gắng tìm kiếm chiếc tàu để gửi tiền hoàn trả lại cho anh đúng kỳ hẹn nhưng tôi đã không tìm thấy chiếc tàu nào. Người cho mượn nói: có phải anh đã gửi một thứ gì đó cho tôi đúng không? Người đàn ông mượn tiền nói: tôi đã nói với anh rằng tôi đã không tìm được con tàu nào trước con tàu mà tôi trở về. Người cho mượn nói: quả thật Allah đã thực hiện cái mà anh đã gửi trên khúc gỗ. Thế là người đàn ông mượn tiền mang 1000 Dinar quay đi.
Do Al-Bukhari ghi lạiThiên Sứ của Allah – cầu xin Allah ban bằng an và phúc lành cho Người – kể rằng có một người đàn ông Israel yêu cầu một người đàn ông Israel khác cho mượn 1000 Dinar. Người được hỏi mượn nói: anh hãy mang đến cho tôi một người làm chứng để làm chứng rằng anh đã mượn của tôi 1000 Dinar. Người hỏi mượn nói: “Allah chứng giám là đủ” tức một mình Allah làm chứng cho tôi và anh là đủ rồi. Người được hỏi mượn nói: anh hãy mang đến cho tôi người bảo đảm. Người hỏi mượn nói: “Allah bảo đảm là đủ” tức một mình Allah đủ bảo đảm cho tôi rồi. Người được hỏi mượn nói: anh nói đúng. Thế là anh ta đưa cho người đàn ông đó số tiền được yêu cầu và giao rõ thời hạn hoàn trả. Người đàn ông đó cầm số tiền vượt biển đến một nơi khác để kinh doanh buôn bán. Sau một thời gian, kỳ hạn trả tiền đã đến, anh ta muốn hoàn trả tiền đúng kỳ hạn cho chủ nhân của nó, anh ta đã tìm kiếm con tàu để gửi số tiền hoàn lại cho người chủ của nó nhưng anh ta không tìm thấy. Anh ta lấy một khúc gỗ, khoét một lỗ nhỏ và nhét số tiền 1000 Dinar vào trong đó kèm theo một mảnh da ghi vài dòng chữ: “Từ người này gửi đến người này, tôi gửi tiền hoàn lại cho anh, tôi ủy thác cho Đấng đã được ủy thác.” Sau đó, anh ta cẩn thận bịt lại lỗ khoét. Xong, anh mang khúc gỗ đến bờ biển, anh ta cầu nguyện với Allah: “Lạy Allah, quả thật Ngài biết rõ bề tôi đã mượn 1000 Dinar từ người đó. Y đã yêu cầu bề tôi phải người đảm bảo và bề tôi đã nói ‘Allah bảo đảm là đủ’ và y đã bằng lòng về sự bảo đảm của Ngài. Y lại yêu cầu bề tôi người làm chứng, bề tôi đã nói ‘Allah làm chứng là đủ’ và y đã bằng lòng về sự làm chứng của Ngài. Nhưng bề tôi đã cố gắng tìm con tàu gửi số tiền hoàn lại cho y nhưng bề tôi không tìm thấy. Bề tôi xin phó thác nó cho Ngài (tức xin Ngài mang số tiền này đến được người đó, đây là Ama-nah mà bề tôi phó thác cho Ngài.” Nói xong, anh ta ném khúc gỗ xuống biển rồi quay đi và tiếp tục tìm kiếm con tàu quay về xứ và mang theo 1000 Dinar khác bởi vì anh ta nghĩ rằng 1000 Dinar được nhét vào khúc gỗ kia có thể vẫn chưa đủ. Riêng người đàn ông cho anh ta mượn tiền cũng đi ra bờ biển trông ngóng, mong rằng có chiếc tàu nào đó nhận mang số tiền của mình về bởi vì đã đến kỳ hạn; anh ta hy vọng người đàn ông mượn tiền của mình sẽ gửi số tiền theo một người nào đó trên tàu hoặc chính y sẽ mang về cho mình. Nhưng anh ta không thấy chiếc tàu nào, chỉ thấy một khúc gỗ trôi vào bờ. Y mang khúc gỗ về và cũng không biết trong khúc gỗ có tiền. Nhưng sau khi cưa khúc gỗ ra thì thấy số tiền cùng với một mảnh da ghi vài dòng chữ từ người đã mượn số tiền của mình. Và sau đó, người mượn tiền đã về tới nhà, anh ta mang 1000 Dinar khác đến gặp người mà anh ta đã mượn, nói: thề bởi Allah, tôi đã cố gắng tìm kiếm chiếc tàu để gửi tiền hoàn trả lại cho anh đúng kỳ hẹn nhưng tôi đã không tìm thấy chiếc tàu nào. Người cho mượn nói: có phải anh đã gửi một thứ gì đó cho tôi đúng không? Người đàn ông mượn tiền nói: tôi đã nói với anh rằng tôi đã không tìm được con tàu nào trước con tàu mà tôi trở về. Người cho mượn nói: quả thật Allah đã mang 1000 Dinar mà anh đã gửi trên khúc gỗ đến tận tay tôi rồi. Thế là người đàn ông mượn tiền mang 1000 Dinar quay đi.
Bà Al-Aliyah con gái ông Subai' thuật lại: Tôi có nuôi đàn cừu tại Uhud. Rồi một số con chết. Tôi vào gặp bà Maimunah vợ của Thiên Sứ. Tôi kể cho bà nghe về sự việc đó. Bà Maimunah nói tôi: sao không chịu lấy da của chúng để dùng. Tôi nói: được phép làm điều đó sao? Bà nói: "Được. Thiên Sứ của Allah đi ngang qua một nhóm đàn ông Quraish đang kéo lê một con cừu to bằng con lừa. Thiên Sứ của Allah bảo họ: Sao các ngươi không lấy da của nó để dùng? Họ nói: Thưa nó đã chết. Thiên Sứ của Allah nói: Nước và Qarazh (lá keo và vỏ xồi tức chất tẩy) sẽ làm sạch nó."
Do Abu Dawood ghi - Do Ahmad ghiBà Al-Aliyah con gái ông Subai' cho biết rằng bà có nuôi đàn cừu rồi một số con đã chết do bệnh hoặc một lý do nào đó. Sau đó, bà đi gặp bà Maimunah vợ của Thiên Sứ và kể cho bà ấy nghe về sự việc đó. Bà Maimunah bảo bà sao không chịu lấy da của chúng để dùng. Bà Al-Aliyah ngạc nhiên nói chẳng lẽ da của chúng được phép sự dụng sau khi chúng đã chết sao? Bà Maimunah nói "Được" rồi bà dẫn chứng bằng một câu chuyện đã xảy ra giống như vậy, đó là Thiên Sứ của Allah đi ngang qua một nhóm đàn ông Quraish đang kéo lê một con cừu to bằng con lừa đem đi vứt bỏ. Thiên Sứ của Allah đã bảo họ lấy da của nó mà sử dụng thay vì đem bỏ. Họ nói "Thưa nó đã chết" vì họ tưởng Thiên Sứ của Allah không biết rằng nó đã chết và theo hiểu biết của họ thì xác chết là haram đối với toàn bộ các bộ phận của nó. Thế là Thiên Sứ của Allah nói cho họ biết nếu đem da của nó đi thuộc da bằng Nước và Qarazh (lá keo và vỏ xồi tức chất tẩy) thì dà sẽ dùng được, không còn Najis nữa.